PGS.TS. Phạm Minh Hùng
                                                                         Phó Hiệu trưởng
 
 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ (HTTC)
         - HTTC ra đời năm 1872 tại đại học Harvard ( Hoa Kỳ)
         - Cơ sở triết lý của HTTC là:Tôn trọng ngư­ời học, xem ngư­ời học là trung tâm của quá trình đào tạo; Ch­ương trình đào tạo phải mềm dẻo để tr­ường đại học dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị tr­ường nhân lực.
           - Đào tạo theo HTTC có một số đặc trư­­ng cơ bản sau đây:
       1) Kiến thức đ­­­ược cấu trúc thành các mô đun (học phần);
        2) Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của sinh viên (SV) theo từng học phần;        
       3) SV tự đăng ký kế hoạch học tập và tổ chức lớp học theo học phần;
       4) Đơn vị học vụ là học kỳ, Xét kết quả học tập theo học kỳ chính (mỗi năm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ);
       5) Kết quả học tập các học phần của SV đư­­­ợc đánh giá theo quá trình (bao gồm điểm chuyên cần, điểm giữa kỳ và điểm thi kết thúc học phần);
      6)  Sử dụng thang điểm 10, thang điểm  chữ (A,B,C,D,F) và thang điểm 4;
      7) Quy định khối l­­­ượng kiến thức phải tích luỹ (số tín chỉ tích luỹ tối thiểu) cho từng văn bằng;
      8)  Có hệ thống cố vấn học tập;
      9)  Ch­­­ương trình đào tạo mềm dẽo, có tính liên thông cao, ngoài các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn để SV có điều kiện tích luỹ thêm kiến thức cho định hư­­­ớng chuyên môn nghề nghiệp;
    10) Bắt buộc áp dụng các ph­­­ương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của SV…
      - Đào tạo theo HTTC có những  ­­ưu thế sau đây:
   1) Tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực của ng­­ười học.
    Trong đào tạo theo HTTC, cho phép SV hoàn toàn chủ động trong việc đăng ký kế hoạch học tập theo điều kiện và năng lực của mình. Những SV giỏi có thể đăng ký học tối đa số l­­ượng tín chỉ quy định trong từng học kỳ để rút ngắn thời gian học đại học. Những SV bình th­­ường hoặc yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn.
     2) SV có nhiều cơ hội hơn trong việc học cùng lúc hai ch­­ương trình để khi tốt nghiệp đ­­ược cấp hai văn bằng.
   Ngay trong đào tạo theo niên chế - học phần, SV cũng có thể học cùng lúc hai chương trình. Tuy nhiên, để học cùng lúc hai ch­­ương trình, SV gặp rất nhiều khó khăn trong việc bố trí kế hoạch học tập của mình. Vì thế, có nhiều SV đã buộc phải hủy bỏ việc học ch­­ơng trình thứ hai.
   Trong đào tạo theo HTTC, SV tự sắp xếp kế hoạch học tập của mình để vừa đảm bảo học ch­­ơng trình thứ nhất, vừa theo học ch­­ương trình thứ hai.
   3) Việc tổ chức đào tạo khoa học, mềm dẻo và linh hoạt.
    So với đào tạo theo niên chế- học phần, đào tạo theo HTTC đòi hỏi việc tổ chức quá trình đào tạo phải rất khoa học trong tất cả mọi khâu, từ khâu xây dựng chương trình đào tạo; đăng ký học phần của SV; tổ chức lớp học phần; triển khai dạy học; quản lý SV đến khâu kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của SV…Toàn bộ quá trình đào tạo theo HTTC đ­­ược quản lý bằng phần mềm.
    Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu liên thông giữa các ngành đào tạo trong và ngoài tr­ường; đáp ứng nhu cầu học tập khác nhau của SV, quá trình đào tạo, ch­­ương trình đào tạo theo HTTC cũng phải rất linh hoạt, mềm dẽo. 
      2. ĐÁNH GIÁ 5 NĂM ĐÀO TẠO THEO HTTC
     Đào tạo theo HTTC là một phương thức đào tạo còn rất mới mẻ đối với nhiều trường đại học Việt Nam. Từ năm học 2007-2008, Trường Đại học Vinh chính thức chuyển sang đào tạo theo  HTTC. Sau 5 năm thực hiện, Nhà trường đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ nhưng vẫn còn những khó khăn cần phải tháo gỡ để từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo theo HTTC.
        2.1. Quan điểm chỉ đạo
       Trong quá trình triển khai đào tạo theo HTTC, Trường Đại học Vinh đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
             2.1.1 Đào tạo theo HTTC là một yêu cầu tất yếu đối với các trường đại học nói chung và Trường Đại học Vinh nói riêng.
   Tính tất yếu của việc chuyển sang đào tạo theo HTTC thể hiện ở những điểm sau đây:
            i) Thực hiện Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, giai đoạn 2006-2020:
           ii) Thực hiện chủ trương của Bộ GD&ĐT về việc tất cả các trường ĐH và CĐ phải chuyển sang đào tạo theo HTTC chậm nhất vào năm  2012.
          iii) Thực hiện Nghị quyết 234/NQ-ĐU của Đảng uỷ Trường Đại học Vinh Về đào tạo theo tín chỉ :
         iv) Đây là phương thức đào tạo tiên tiến, rất phổ biến ở các nước phát triển từ những thập niên đầu của thế kỉ trước. 
         2.1.2. Không cầu toàn trong quá trình triển khai đào tạo theo HTTC
    Đào tạo theo HTTC là một công việc hoàn toàn mới mẻ, bản thân Nhà trường chưa có kinh nghiệm. Vì thế cần phải vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm để  từng bước hoàn thiện, đưa đào tạo theo HTTC đi vào đúng quỹ đạo của nó.
        2.1.3. Phải có những bước đi vững chắc, mang tính quá độ
   Trong quá trình triển khai đào tạo theo HTTC, Trường Đại học Vinh đã thực hiện các bước quá độ sau đây: Chuyển đổi ngang chương trình đào tạo từ niên chế - học phần sang HTTC; Bắt đầu từ khoá đào tạo mới, còn các khoá trước đó vẫn đào tạo theo niên chế học phần; Học cứng 1 học kỳ; Bố trí các học phần theo từng kì; Phân công giảng viên (GV) chứ chưa để sinh viên (SV) lựa chọn GV...
      2.1.4. Phải tạo thế chủ động nhiều nhất cho SV
         Trong đào tạo theo HTTC, phải tạo điều kiện để SV đựơc chủ động về: Kế hoạch học tập của cá nhân; Thời gian để hoàn thành khoá học; Học thêm ngành 2; Lựa chọn GV…
      2.2. Những việc Nhà trường đã làm và những kết quả bước đầu
     Trong 5 năm triển khai đào tạo theo HTTC, Trường Đại học Vinh đã làm và đạt được những kết quả sau đây:
        2.2.1. Tạo ra được sự đồng thuận trong toàn bộ hệ thống chính trị của Nhà trường
      Đây là công việc có tính chất khởi đầu nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Phải tạo ra được sự thống nhất và quyết tâm cao từ Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, các khoa, phòng ban đến cán bộ, GV, SV trong việc chuyển đổi  quy trình đào tạo.    
         2.2.2. Chuẩn bị tốt cho việc chuyển đổi quy trình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ
     Để chuyển đổi quy trình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, Nhà trường đã có  sự chuẩn bị toàn diện trên tất cả các mặt: tư tưởng- nhận thức, chuyên môn- nghiệp vụ và tổ chức.
         - Về tư tưởng- nhận thức
+) Ngày 23/5/2006, Đảng uỷ Nhà trường đã ra NQ số 234/NQ-ĐU Về đào tạo theo HCTC.
+)Ngày 19/5/2007, Bộ GD&ĐT đã có công văn số 7552/BGDĐT đồng ý để Trường ĐH Vinh tổ chức đào tạo theo HTTC chỉ từ khoá tuyển sinh năm 2007. 
      - Về mặt chuyên môn - nghiệp vụ
+) Tổ chức các hội thảo với Vụ Giáo dục Đại học và các trường đại học trong và ngoài nước về đào tạo theo HTTC: ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Đà Lạt, ĐH Phương Đông, ĐH KTQD; ĐH New Mexico, ĐH St. John’s ( Hoa Kỳ)…
+) Tổ chức các đoàn đi tìm hiểu thực tế đào tạo  theo HTTC ở một số trường ĐH đã nhiều năm đào tạo theo HTTC.
      -Về mặt tổ chức
+) Thành lập Ban chỉ đạo đào tạo theo  HTTC do đồng chí Hiệu trưởng làm Trưởng ban.
+) Thành lập các Tiểu ban đào tạo theo HTTC do các đồng chí Phó Hiệu trưởng làm Trưởng tiểu ban: Tiểu ban Xây dựng chương trình; Tiểu ban Cơ sở vật chất; Tiểu ban Nghiên cứu phương pháp kiểm tra, đánh giá.
       2.2.3. Lựa chọn được một lộ trình thích hợp cho đào tạo theo HTTC
   Việc chuyển sang đào tạo theo HTTC có thể theo các lộ trình sau đây:
     - Thực hiện đào tạo theo HTTC ở một số ngành đào tạo.
      - Thực hiện đào tạo theo HTTC đồng loạt ở tất cả các ngành học, khoá học.
      - Thực hiện đào tạo theo HTTC ở tất cả các ngành học nhưng bắt đầu từ khoá học mới, còn các khoá học khác vẫn đào tạo theo niên chế.
      Trường Đại học Vinh đã chọn lộ trình thứ 3. Lộ trình này có ưu điểm là chắc chắn, vì khối lượng công việc của đào tạo theo HTTC trong năm đầu tiên không nhiều. Nhưng lộ trình này phải mất 4-5 năm mới có thể chuyển toàn bộ các khoá học của Nhà trường sang đào tạo theo HTTC.
     2.2.4. Xây dựng, ban hành và điều chỉnh khung chương trình, chương trình chi tiết của các ngành đào tạo theo HTTC
     Đây là công việc rất quan trọng, đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và công sức. Tiểu ban chương trình đã ban hành một bản hướng dẫn rất cụ thể và tường minh làm cơ sở cho việc chuyển đổi chương trình đào tạo. Quan điểm chỉ đạo của Nhà trường trong việc xây dựng khung chương trình, chương trình chi tiết là phải đáp ứng nhu cầu xã hội; bảo đảm tính liên thông giữa các khối ngành; có tỉ lệ hợp lý giữa lý thuyết và thực hành; tránh trùng lặp kiến thức giữa các học phần; tăng cường các học phần tự chọn cho phần chuyên ngành; quan tâm đúng mức đến khâu tổ chức dạy học…
     Sau khi xây dựng và ban hành khung chương trình, chương trình chi tiết của các ngành đào tạo theo HTTC, áp dụng cho các khóa đào tạo 48 và 49, Nhà trường lại tiến hành rà soát, điều chỉnh  và ban hành khung chương trình, chương trình chi tiết của các ngành đào tạo theo HTTC, áp dụng cho các khóa đào tạo 50 và 51(2009); khung chương trình, chương trình chi tiết của các ngành đào tạo theo HTTC, áp dụng cho các khóa đào tạo từ 52 trở đi (2011). Ở các lần rà soát, điều chỉnh này (nhất là ở lần thứ 2), các khoa , các ngành đã quán triệt khá tốt  quan điểm chỉ đạo của Nhà trường là chương trình đào tạo phải đáp ứng nhu cầu xã hội; bảo đảm tính liên thông giữa các khối ngành; có tỉ lệ hợp lý giữa lý thuyết và thực hành; tăng giờ lý thuyết và thực hành lên gấp đôi; tránh trùng lặp kiến thức giữa các học phần; tăng cường các học phần tự chọn cho phần chuyên ngành; quan tâm đúng mức đến khâu tổ chức dạy học; giảm áp lực thi cử cho SV...
      2.2.5. Xây dựng phần mềm quản lý đào tạo
    Phần mềm đóng vai trò quan trọng trong quản lý đào tạo theo HTTC. Ý thức được điều đó nên Nhà trường đã tìm hiểu và đặt mua phần mềm  của công ty CMC.
    Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng phần mềm cho đào tạo theo HTTC, cả ngư­ời đặt hàng và nhà cung cấp chư­a thể hình dung hết các bài toán cần phải giải quyết. Trong quá trình triển khai đã phát sinh hàng loạt những vấn đề mà cả hai bên phải tiếp tục hoàn thiện  để làm cho phần mềm quản lý đào tạo theo HTTC ngày càng tiện ích và thân thiện hơn đối với ng­ười sử dụng.
     2.2.6. Tổ chức đào tạo theo HTTC
        i)  Xây dựng kế hoạch dạy học cho từng ch­ương, từng nội dung của học phần    
     Trong tổ chức đào tạo theo HTTC, việc xây dựng kế hoạch dạy học cho từng chương, từng nội dung của học phần có một ý nghĩa quan trọng. Thực chất đây là một bản thiết kế các hoạt động của GV và SV trong quá trình dạy học. Kế hoạch dạy học càng cụ thể thì việc tổ chức dạy học càng thuận lợi và hiệu quả. Trong kế hoạch dạy học, Nhà trường yêu cầu chỉ  rõ những nội dung nào GV cần trình bày, hướng dẫn; những nội dung nào SV cần tự học, tự nghiên cứu d­ưới hình thức cá nhân hay nhóm. Ngoài ra, cũng cần xác định các tài liệu mà SV phải tham khảo. Mỗi học phần, SV phải tham khảo tối thiểu đ­ược 2-3 tài liệu. Đối với mỗi tài liệu, cần có sự h­ướng dẫn cụ thể về các trang cần đọc, các nội dung cần nắm vững, các vấn đề cần trao đổi, thảo luận…
    Kế hoạch dạy học từng ch­ương, từng nội dung (trên đơn vị thời gian là tuần)  phải đ­ược thể hiện rõ trong đề cư­ơng chi tiết của học phần. Tr­ước khi bắt đầu một học phần nào đó, bản thân GV và SV đều phải có đề cư­ơng chi tiết của học phần.
      Tuy nhiên , ở yêu cầu này số học phần đảm bảo được còn hạn chế
   ii) Sử dụng các ph­ương pháp dạy học tích cực                                             
      Sử dụng các PPDH tích cực  là một trong những đặc trư­ng của đào tạo theo HTTC. Nếu trong đào tạo theo HTTC, ngư­ời GV vẫn sử dụng các PPDH truyền thống, dựa trên cơ sở thuyết trình- diễn giảng là chủ yếu thì không thể nào nâng cao đ­ược chất l­ượng và hiệu quả của ph­ương thức đào tạo này.
       Trong đào tạo theo HTTC, thông thư­ờng GV chỉ lên lớp 50%, thời gian còn lại dành cho các họat động độc lập (như­ thí nghiệm, thực hành, seminar, tự học, tự nghiên cứu..) của SV. Vì thế, công việc chủ yếu của GV ở trên lớp là phải tổ chức hoạt động nhận thức của SV theo h­ướng gợi mở, phát hiện và giải quyết vấn đề. Với cách dạy này, chúng tôi đòi hỏi GV phải nhanh chóng sử dụng và sử dụng có hiệu quả các PPDH mới như­: PPDH giải quyết vấn đề; PPDH nghiên cứu; PPDH hợp tác…
     iii) Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học
     Có thể chia các hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH) thành 2 dạng chính: giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, dù triển khai d­ưới hình thức nào thì vẫn phải đảm bảo 1 giờ tín chỉ ứng với 3 giờ lao động/học tập thực tế của SV.
    Việc lựa chọn HTTCDH sẽ do mục tiêu và nội dung dạy học quy định: Mục tiêu/nội dung nào sẽ đ­ược giải quyết trên lớp (thông qua sự tham gia trực tiếp của ngư­ời dạy)? Mục tiêu/nội dung nào sẽ đ­ược ng­ười học tự giải quyết thông qua con đư­ờng tự nghiên cứu (d­ưới sự hư­ớng dẫn và kiểm tra của ng­ười dạy)? Mục tiêu/nội dung nào sẽ đ­ược ng­ười học tự định h­ướng giải quyết nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập cá nhân theo định h­ướng mục tiêu môn học?
     Trong quá trình dạy học, GV của Nhà trường đã sử dụng phổ biến các  HTTCDH như: Giờ lên lớp lý thuyết (lecture); Giờ seminar; Giờ làm việc nhóm; Giờ tự học, tự nghiên cứu; Giờ tư vấn… Hai HTTCDH là Giờ tự học, tự nghiên cứu và Giờ tư vấn, đặc biệt có ý nghĩa đối với đào tạo theo HTTC, được chúng tôi khuyến khích sử dụng.
         iv) Tạo ra một môi trư­ờng tự học thuận lợi cho sinh viên
         Môi tr­ường tự học ảnh hư­ởng không nhỏ đến kết quả tự học của SV. Vì thế, Nhà trường luôn luôn tạo điều kiện để việc tự học của SV đ­ược diễn ra trong một môi trường thuận lợi. Các yếu tố của môi trường này bao gồm: Sự h­ướng dẫn tự học chu đáo của GV (mục đích, yêu cầu tự học, nội dung tự hoc, cách thức tự học...); Hệ thống học liệu (tài liệu, giáo trình) đầy đủ; Việc kiểm tra tự học của SV đ­ược tiến hành thư­ờng xuyên...
    Có được những kết quả nói trên là do sự quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ hệ thống từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu các khoa, các phòng ban chức năng và đặc biệt là của  đội ngũ giảng viên - những người trực tiếp vận hành cổ máy đào tạo theo HTTC.
     2.3. Những khó khăn, hạn chế trong 5 năm  triển khai đào tạo theo HTTC
       Trong 5 năm triển khai đào tạo theo HTTC, Nhà trường đã gặp, đang gặp và từng bước khắc phục những khó khăn sau đây:
      i) Thiếu kinh nghiệm về đào tạo theo HTTC, trong khi đó quán tính về đào tạo theo niên chế còn quá lớn.
      ii) Một bộ phận cán bộ, GV còn nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về đào tạo theo HTTC:
   - Cho đào tạo theo HTTC không hiệu quả so với đào tạo theo niên chế- học phần;
   - Cho đào tạo theo HTTC làm phức tạp hoá thêm  quá trình đào tạo;
   - Cá biệt, thời gian đầu, còn có ý kiến cho rằng, đào tạo theo HTTC để cắt xén giờ dạy của GV...
   iii) Chương trình đào tạo  điều chỉnh nhiều lần, gây khó khăn cho SV khóa trước học lại với khóa sau.
    iv) Việc đăng ký học, việc học ngành 2 của SV còn gặp không ít khó khăn, do nhiều nguyên nhân, đó là: Sự chậm trễ trong cải tiến công tác tổ chức đăng ký học; SV chưa được tư vấn, hỗ trợ kịp thời; Ý thức trách nhiệm của SV đối với việc học tập của bản thân còn hạn chế...). Trong khi đó, việc đăng ký học của SV  lại chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ. Hiện tượng SV đăng ký thiếu hoặc vượt số TC quy định cho mỗi học kỳ; SV không có học phí vẫn  đăng ký học thành công... chưa được khắc phục một cách kịp thời và triệt để.
    v) Việc tổ chức giảng dạy - học tập của một bộ phận GV và SV còn chưa đáp ứng yêu cầu của đào tạo theo HTTC:
     - Về phía người dạy: Không ít GV còn dạy như trước đây, chưa có nhiều đổi mới về phương pháp giảng dạy. Vì thế, còn bị áp lực của khối lượng  kiến thức cần truyền thụ cho SV chi phối. Khâu tổ chức cho SV tự học, tự nghiên cứu còn ít được quan tâm.
      - Về phía người học: Cũng còn học như ở phổ thông, chưa có sự tích cực, chủ động trong học tập nên có cảm giác như việc học nhẹ nhàng hơn. Chưa phải chịu áp lực về tự học, tự nghiên cứu từ phía người dạy…
      vi) Việc đánh giá kết quả học tập của SV (bao gồm đánh giá chuyên cần; đánh giá giữa kỳ; đánh giá thực hành, thí nghiệm, đánh gia thi kết thúc học phần) chưa thật sự khách quan, khoa học dẫn đến sự không tương ứng giữa kết quả học tập/tốt nghiệp của SV với chất lượng đào tạo.
       vii) Công tác quản lý SV trong đào tạo theo HTTC tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn bất cập; chưa xây dựng được nhiều mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với từng ngành đào tạo và HTTC.
       viii) Cơ sở vật chất đảm bảo cho đào tạo theo HTTC của Nhà trường còn nhiều bất cập ( học liệu, phòng học, trang thiết bị…).
      3. NHỮNG VIỆC NHÀ TRƯỜNG CẦN TIẾP TỤC QUAN TÂM CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRONG ĐÀO TẠO THEO HTTC
  Để nâng cao chất lượng đào tạo theo HTTC, Trường Đại học Vinh đang tiếp tục quan tâm  chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các công việc sau đây:
     1. Tiếp tục quán triệt những vấn đề cơ bản, cốt lõi trong đào tạo theo HTTC cho cán bộ, GV, SV nhằm tạo ra sự thích ứng cao của các chủ thể đối với phư­ơng thức đào tạo mới này. Thực tế cho thấy rằng, một trong những nguyên nhân ảnh hư­ởng đến chất l­ượng đào tạo theo HTTC của Nhà trường là do quán tính đào tạo theo phương thức cũ còn khá lớn cả từ phía ng­ười dạy lẫn ngư­ời học.  
     2. Tiếp tục hoàn thiện khung ch­­ương trình và ch­­ương trình chi tiết của các học phần theo hư­­ớng đáp ứng nhu cầu của xã hội, có cấu trúc môdun mềm dẻo để tăng khả năng liên thông giữa các ngành, các hệ đào tạo; trên cơ sở ổn định chương trình cùng với số l­­ượng học phần, số l­­ượng tín chỉ của các ngành học đã được xác định.
    3. Tiếp tục cải tiến công tác xây dựng kế hoạch dạy học; công tác đăng ký học; có biện pháp để SV đăng ký học theo tiến độ, đảm bảo các học phần đã bố trí theo học kỳ trong khung chương trình đào tạo; có quy định số lượng tín chỉ mà SV cần phải tích lũy để được công nhận tốt nghiệp ngành 2 cũng như thời gian sớm nhất để SV tốt nghiệp ngành 2 (sau một học kỳ hay sau một năm SV tốt nghiệp ngành 1).
     4. Tăng c­­ường các sinh hoạt chuyên môn, học thuật tập trung vào vấn đề tổ chức đào tạo theo HTTC nh­­ư:
    - Phát triển chương trình đào tạo định hướng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thế giới việc làm;
    - Đổi mới ph­­ương pháp, HTTCDH theo HTTC;
    - Biện pháp gây áp lực tự học, tự nghiên cứu cho SV.
    5. Tiếp tục hoàn thiện phần mềm để phần mềm vừa tiện ích với người sử dụng; vừa giải quyết được một cách tổng thể bài toán quản lý trong đào tạo theo HTTC của Nhà trường.
    6. Rà soát lại quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV ở tất cả các khâu: đề thi; tổ chức thi; chấm điểm chuyên cần, điểm giữa kỳ, điểm thi kết thúc học phần; điểm thực hành, thí nghiệm... để kết quả học tập/tốt nghiệp của SV phản ánh đúng thực lực của SV và chất lượng đào tạo của Nhà trường.
    Cần có sự cải tiến cách ra đề thi, đề thi không nên quy định cứng nhắc về cấu trúc  3 câu (câu 2 điểm, câu 3 điểm, câu 5 điểm) cũng như thời gian thi cho các loại học phần(học phần 2 TC thời gian thi 90 phút; học phần 3 TC trở lên thời gian thi 120 phút ); nên có những đề thi mở, đòi hỏi SV phải vận dụng kiến thức để phân tích, tổng hợp vấn đề. Đề thi cần bao gồm cả nội dung giảng viên lên lớp, cả nội dung SV tự học, tự nghiên cứu. Không nên cố định hình thức thi đối với các học phần...
     7. Xây dựng hệ thống học liệu cho các ngành đào tạo, tiến tới tất cả các học phần đều có giáo trình, tài liệu tham khảo cho SV mà tác giả là cán bộ, giảng viên của Trường ĐH Vinh. Tủ sách ĐH Vinh đã đến lúc cần được khôi phục lại.
      8. Đổi mới hệ thống đào tạo và công tác quản lý đào tạo theo h­­ướng phân cấp về cho các khoa, các tổ bộ môn; xây dựng hệ thống văn bản chặt chẽ chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của các phòng, các khoa, trung tâm trong công tác quản lý đào tạo; quản lý SV...
     9. Phát huy vai trò của Tr­­ưởng bộ môn trong quản lý dạy học và vai trò của Cố vấn học tập trong việc giúp  đỡ SV học tập theo HTTC.
       Trong đào tạo theo HTTC, công tác quản lý dạy học có ý nghĩa rất quan trọng. Trưởng bộ môn chính là ng­ười chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp việc giảng dạy các học phần do bộ môn của mình phụ trách. Vì thế, cần chú ý phát huy vai trò của Trưởng bộ môn trong quản lý dạy học.
      Cố vấn học tập đ­ược xem là một mắt xích trong sợi dây chuyền đào tạo theo HTTC. Cố vấn học tập cần giúp đỡ SV, khi các em đăng ký học, học ngành hai, học tích lũy lại các học phần bị điểm F hoặc D để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy… Cố vấn học tập phải thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà trường quy định, đặc biệt là trong việc tư vấn giúp đỡ SV xây dựng kế hoạch học tập hợp lý trong từng học kỳ/năm học; SV học ngành 2; SV là Lưu HS, SV cử tuyển, SV thuộc diện 30 A...
      10. Từng b­­ước tháo gỡ những khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo theo HTTC. Bên cạnh những phòng học lớn (500, 300, 200 chỗ ngồi), được trang bị các thiết bị hỗ trợ giảng dạy, cần phải có hệ thống các phòng học nhỏ cho thảo luận nhóm...                                     
                                                      KẾT LUẬN                                    
       Sau 5 năm đào tạo theo HTTC, Trường chúng ta đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Tuy nhiên trước mắt chúng ta cũng còn nhiều khó khăn, thách thức.   Hội nghị hôm nay là một dịp để chúng ta  nhìn lại những gì đã làm được, những gì cần phải tiếp tục.  5 năm vừa qua là thời gian để chúng ta bước vào HTTC. Những năm tiếp theo sẽ là quảng thời gian dành cho việc nâng chất lượng đào tạo theo HTTC ở Trường chúng ta.
        Điều để  tiếp tục củng cố lòng  tin và sự quyết tâm của chúng ta trong đào tạo theo HTTC là các trường ĐH hàng đầu trên thế giới đều rất thành công trong phương thức đào tạo này. 141 năm đã trôi qua, ĐH Harvard vẫn trung thành với đào tạo theo HTTC.